“Đất có nguồn gốc Nông, Lâm trường” – Bài 2: Bức tranh cả nước hôm nay
Hơn hai mươi năm sắp xếp, hai nghị quyết của Bộ Chính trị, một nghị quyết giám sát chuyên đề của Quốc hội, hàng chục nghị định và chỉ thị – nhưng đến nay vẫn còn gần bốn mươi phần trăm số công ty nông, lâm nghiệp chưa hoàn thành sắp xếp, gần một phần tư quỹ đất đã bàn giao về địa phương vẫn nằm trong tình trạng bị lấn chiếm, tranh chấp hoặc cấp trùng. Bài viết này tập hợp và đối chiếu các số liệu chính thức đã được công bố, chỉ rõ mốc thời gian và nguồn của từng con số, để bạn đọc có một bức tranh định lượng đáng tin cậy về hiện trạng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trên phạm vi cả nước.
1. Một lưu ý về cách đọc số liệu
Trước khi đi vào các con số, cần nói rõ một điều mà người làm nghề luật buộc phải lưu tâm: không tồn tại một bộ số liệu duy nhất, được cập nhật liên tục về đất nông, lâm trường trên phạm vi cả nước. Các con số hiện có đến từ ba nguồn khác nhau, được thống kê tại ba thời điểm khác nhau và theo ba phạm vi khác nhau.
Nhóm số liệu về doanh nghiệp: số công ty nông, lâm nghiệp thuộc diện sắp xếp và tiến độ sắp xếp do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) và Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp tổng hợp.
Nhóm số liệu về đất đai: diện tích giữ lại, diện tích bàn giao, diện tích bị lấn chiếm, tranh chấp chủ yếu lấy từ báo cáo tổng kết mười năm thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW (năm 2024).
Nhóm số liệu địa phương và ngành: do từng tỉnh, từng tập đoàn, tổng công ty tự báo cáo, mức độ chính xác phụ thuộc vào việc đã đo đạc thực địa hay chưa.
Vì vậy, khi trích dẫn cần luôn gắn con số với mốc thời gian và phạm vi thống kê. Một con số bị bóc khỏi ngữ cảnh rất dễ trở thành lập luận sai trong hồ sơ vụ việc. Toàn bộ số liệu dưới đây đều được ghi rõ nguồn và thời điểm.
2. Tiến độ sắp xếp doanh nghiệp: 63% hoàn thành sau mười năm
Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị và Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ xác định phạm vi sắp xếp gồm 256 công ty nông, lâm nghiệp, do 49 địa phương, tập đoàn, tổng công ty quản lý.
Tiến độ thực hiện được ghi nhận qua các mốc như sau:
| Thời điểm | Kết quả | Tỷ lệ chưa hoàn thành |
| 31/12/2021 | 90/256 công ty chưa hoàn thành sắp xếp (86 đã phê duyệt phương án, 04 chưa phê duyệt) | 35,20% |
| Tháng 4/2024 | 161/256 công ty hoàn thành; còn 95 công ty chưa hoàn thành, thuộc 24 tỉnh, thành phố và 02 tổng công ty | 37,10% |
| Tháng 9/2024 (riêng lĩnh vực lâm nghiệp) | 115/169 công ty lâm nghiệp hoàn thành; còn 54 công ty chưa hoàn thành | 32,00% |
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Ban Kinh tế Trung ương (tổng hợp từ các hội nghị tháng 4/2024 và tháng 10/2024).
Con số 161/256 công ty hoàn thành sắp xếp tương đương 63%, tiếp tục được đại biểu Quốc hội viện dẫn trong phiên thảo luận tại hội trường ngày 20/4/2026, cho thấy trong khoảng hai năm gần nhất tiến độ gần như không dịch chuyển. Đây là chi tiết đáng lưu ý: sự đình trệ không nằm ở giai đoạn khởi động mà ở nhóm vụ việc còn lại những trường hợp khó nhất, vướng nhất.
Trong 161 công ty đã hoàn thành, cơ cấu mô hình gồm: 76 công ty tái cơ cấu giữ nguyên mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; 54 công ty cổ phần hóa; 22 công ty chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; 03 công ty chuyển thành ban quản lý rừng; 06 công ty giải thể. Cơ cấu này có ý nghĩa pháp lý trực tiếp: mỗi mô hình kéo theo một chế độ pháp lý khác nhau về quyền sử dụng đất, về hợp đồng giao khoán còn hiệu lực và về chủ thể chịu trách nhiệm giải quyết tranh chấp, nội dung sẽ được phân tích ở các bài sau của seri.
3. Quỹ đất: từ 4,1 triệu ha xuống còn khoảng 1,85 triệu ha
Nhìn theo chiều dài lịch sử, khối đất do hệ thống nông, lâm trường quản lý đã co lại đáng kể. Năm 1986, cả nước có 413 lâm trường quốc doanh quản lý khoảng 4,1 triệu ha đất, chủ yếu là đất rừng. Đến thời điểm trước sắp xếp theo Nghị quyết số 28-NQ/TW (năm 2003), 256 lâm trường quốc doanh nắm giữ tổng cộng 4.091.000 ha, trong đó 3.828.000 ha là đất lâm nghiệp.
Sau mười năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW (2003–2013), toàn bộ 256 lâm trường quốc doanh được chuyển đổi thành 148 công ty lâm nghiệp quản lý 2.222.330 ha và 91 ban quản lý rừng phòng hộ quản lý 1.350.625 ha; 14 lâm trường bị giải thể. Đến giai đoạn thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW, 148 công ty lâm nghiệp tiếp tục được sắp xếp thành 114 công ty theo bốn mô hình, giữ lại sử dụng 1.719.987 ha.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2024, tổng diện tích các công ty nông, lâm nghiệp tiếp tục được quản lý là 1.855.492 ha, trong đó đất lâm nghiệp 1.417.347 ha; diện tích còn phải bàn giao về địa phương là 377.256 ha, tương đương 20% tổng diện tích. Ở nhóm đất lâm nghiệp, tỷ lệ bàn giao còn thấp hơn, chỉ khoảng 17%.
4. Bàn giao về địa phương: 674.642 ha sau hơn hai mươi năm
Đây là chỉ tiêu phản ánh rõ nhất khoảng cách giữa chủ trương và thực tế. Mục tiêu xuyên suốt của cả hai nghị quyết là thu hồi phần đất sử dụng kém hiệu quả để giao về địa phương, tạo quỹ đất giải quyết tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số. Kết quả:
Giai đoạn 2003–2013 (Nghị quyết số 28-NQ/TW): bàn giao về địa phương 415.125 ha, tương đương khoảng 10% tổng diện tích đất của các lâm trường quốc doanh.
Giai đoạn 2014–2024 (Nghị quyết số 30-NQ/TW): bàn giao thêm 259.642 ha.
Cộng dồn hơn hai mươi năm: 674.642 ha, chiếm khoảng 16,5% diện tích đất do hệ thống lâm trường quốc doanh, công ty lâm nghiệp quản lý.
Nhóm nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Bá Ngãi và TS. Vũ Xuân Thôn nhận định: kể cả khi hoàn thành toàn bộ kế hoạch bàn giao trong những năm tới, tổng diện tích chuyển về địa phương cũng khó vượt quá 1 triệu ha, tức khoảng 25% diện tích đất mà hệ thống lâm trường quốc doanh từng nắm giữ. Phần lớn khối đất rời khỏi lâm trường trong giai đoạn 2003–2013 không đi về địa phương mà chuyển sang các ban quản lý rừng – tức vẫn nằm trong khu vực nhà nước.
5. Chất lượng quỹ đất bàn giao: 23,6% đang bị lấn chiếm, tranh chấp, cấp trùng
Con số quan trọng nhất của bài viết này nằm ở đây. Theo báo cáo năm 2024 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện trạng quản lý, sử dụng 512.685 ha đất đã bàn giao về địa phương như sau:
| Hiện trạng sử dụng | Diện tích (ha) | Tỷ lệ |
| Địa phương tự tổ chức sản xuất | 301.283 | 58,70% |
| Đất bị lấn chiếm | 97.649 | 19,00% |
| Đất giao khoán cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng | 75.851 | 14,80% |
| Đất đang tranh chấp | 17.607 | 3,40% |
| Đất liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư | 12.759 | 2,50% |
| Đất cấp trùng giấy chứng nhận | 6.122 | 1,20% |
| Đất cho mượn | 1.234 | 0,24% |
| Đất cho thuê | 177 | 0,03% |
| Tổng cộng | 512.685 | 100% |
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2024 - dẫn theo báo cáo “Quản lý, sử dụng đất đai của lâm trường quốc doanh và công ty lâm nghiệp bàn giao về địa phương”.
Gộp ba nhóm lấn chiếm, tranh chấp và cấp trùng, có 121.378 ha tương đương 23,6% quỹ đất đã bàn giao – đến nay chưa xử lý được. Nói cách khác, cứ bốn hecta đất được các công ty nông, lâm nghiệp trả về cho địa phương thì gần một hecta rơi vào tình trạng có tranh chấp về chủ thể sử dụng.
Đáng chú ý hơn, tỷ lệ đất giao khoán lại cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng chỉ đạt 14,8%. Con số này cho thấy mục tiêu ban đầu lấy đất từ nông, lâm trường để giải quyết tình trạng thiếu đất sản xuất của người dân nhưng chưa đạt được như kỳ vọng.
6. Về khái niệm “đất bỏ hoang”
Trong các bài báo và cả trong một số văn bản, cụm từ “đất nông, lâm trường bỏ hoang” được dùng khá phổ biến. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một số liệu thống kê chính thức, ở phạm vi cả nước, về riêng diện tích đất có nguồn gốc nông, lâm trường đang bị bỏ hoang. Việc trích dẫn một con số cụ thể mà không có nguồn xác định là rủi ro cần tránh, nhất là trong hồ sơ pháp lý.
Điều có thể khẳng định là đặc điểm của quỹ đất bàn giao. Báo cáo nghiên cứu nêu trên mô tả: phần lớn diện tích bàn giao về địa phương là đất trống, đồi trọc, đất xấu, bạc màu, xói mòn, nằm ở vị trí không thuận lợi về giao thông; đất bị chia cắt, phân nhỏ do lấn chiếm tự do; không phải “đất sạch” vì đã giao khoán, cho thuê, cho mượn, liên doanh liên kết hoặc đang tranh chấp; thiếu hoặc không đầy đủ hồ sơ đất; chưa có quy hoạch rõ ràng. Về phía quản lý nhà nước, phần lớn diện tích này chưa được kiểm kê, chưa lập bản đồ địa chính chi tiết đến từng thửa, chưa đo đạc cắm mốc ranh giới và chưa có phương án quản lý, giao đất.
Đây chính là cơ chế tạo ra tình trạng bỏ hoang trên thực tế: đất đã rời khỏi doanh nghiệp nhưng chưa được xác lập chủ thể sử dụng mới, nên không ai đầu tư, không ai chịu trách nhiệm. Ở góc độ chống lãng phí, kết quả giám sát của Quốc hội về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2016–2021 ghi nhận 74.378,7 ha đất trên cả nước bị sử dụng sai mục đích, bỏ hoang hóa hoặc vi phạm pháp luật – lưu ý rằng đây là số liệu chung cho mọi loại đất, không phải riêng đất nông, lâm trường.
7. Các điểm nóng: Tây Nguyên và các tổng công ty
Bức tranh cả nước không phân bổ đều. Một số địa bàn và một số doanh nghiệp tập trung phần lớn khối lượng tồn đọng.
Đắk Lắk là tỉnh có số lượng công ty nông, lâm nghiệp và diện tích đất có nguồn gốc nông, lâm trường lớn nhất cả nước: 44 công ty quản lý khoảng 203.000 ha, trong đó 22 công ty thuộc quản lý của Trung ương. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh, diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trên địa bàn khoảng 127.000 ha, bao gồm cả phần do nông, lâm trường quản lý và phần do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý.
Ở khối doanh nghiệp trung ương, kết luận thanh tra công bố năm 2021 cho thấy: tính đến 31/12/2017, các đơn vị thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam để hơn 10.710 ha đất bị lấn chiếm, tập trung ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, cùng 1.737 ha chồng lấn với các đối tượng khác, chủ yếu là người dân; Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam để hơn 7.396 ha bị lấn chiếm chưa thu hồi; Tổng công ty Chè Việt Nam để 497,53 ha bị lấn chiếm, tập trung tại Phú Thọ.
Một vụ việc thời sự minh họa rõ độ dai dẳng của loại tranh chấp này: tại Phú Thọ, việc thu hồi hơn 7.000 ha đất của Tổng công ty Giấy Việt Nam đã kéo dài gần mười năm mà chưa xử lý dứt điểm. Doanh nghiệp thực tế chỉ còn quản lý hơn 12.000 ha, trong khi 4.098 ha đã bị lấn chiếm và không còn khả năng quản lý, cùng khoảng 3.028 ha sử dụng kém hiệu quả. Đầu tháng 8/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ phải trực tiếp chỉ đạo địa phương thực hiện lại thủ tục theo đúng quy định để tránh kéo dài.
8. Đánh giá từ nghị trường: “phát canh thu tô” và thể chế chưa được tháo gỡ
Tại phiên thảo luận ở hội trường ngày 20/4/2026, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt – Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk – đã nêu một loạt nhận định thẳng thắn, có thể xem là bản tóm tắt cô đọng nhất về hiện trạng.
Thứ nhất, về hiệu quả sử dụng đất: nhiều công ty sau khi sắp xếp, chuyển đổi vẫn có hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, lợi nhuận và đóng góp ngân sách không tương xứng với quỹ đất được giao; năng lực quản trị hạn chế dẫn đến thua lỗ kéo dài; hoạt động kinh doanh chủ yếu dưới hình thức “phát canh thu tô” mà thiếu phương án kinh doanh và sử dụng đất hiệu quả. Đây là cụm từ đáng chú ý: nó mô tả một mô hình mà doanh nghiệp giữ quyền sử dụng đất nhưng không trực tiếp tổ chức sản xuất, chỉ thu tiền từ người nhận khoán.
Thứ hai, về hệ quả xã hội: các công ty lâm nghiệp quản lý diện tích lớn nhưng doanh thu không đáng kể vì chủ yếu làm nhiệm vụ công ích bảo vệ rừng; nhiều công ty sau cổ phần hóa xảy ra tranh chấp, khiếu kiện phức tạp kéo dài giữa hộ nhận khoán, hộ liên kết với công ty mà địa phương không thể giải quyết dứt điểm, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định an ninh nông thôn.
Thứ ba, về thể chế: những vướng mắc khi áp dụng Điều 181 Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành dù địa phương đã nhiều lần kiến nghị vẫn chưa được tháo gỡ. Hệ quả trực tiếp là người dân không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn địa phương không thể kêu gọi đầu tư phát triển kinh tế vì phương án sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường chưa được khơi thông về pháp lý.
Từ đó, đại biểu đề nghị Chính phủ xây dựng Đề án “Cơ chế, chính sách đặc thù giải quyết những bất cập, vướng mắc về đất đai có nguồn gốc từ nông, lâm trường” trình Bộ Chính trị, làm cơ sở chính trị – pháp lý để Quốc hội ban hành nghị quyết triển khai; cơ chế này nên được thiết kế tương tự nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù xử lý vướng mắc đất đai trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án đang áp dụng thí điểm tại năm tỉnh, thành phố.
Ở kênh tiếp xúc cử tri, phản ánh cũng thống nhất một hướng. Tháng 5/2026, cử tri Lâm Đồng nêu tình trạng nhiều diện tích đất có nguồn gốc nông, lâm trường được giao khoán cách đây khoảng ba mươi năm, nay đã bàn giao về địa phương quản lý nhưng người dân vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; nhiều trường hợp sử dụng ổn định hàng chục năm mà hồ sơ vẫn sai sót, chồng chéo.
Cần nhắc lại rằng đây không phải là đánh giá mới. Ngay trong đợt giám sát chuyên đề của Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 2015 – dẫn tới Nghị quyết số 112/2015/QH13 – các đại biểu đã nói về tình trạng thất thoát quỹ đất và tài sản khá nghiêm trọng, về việc tranh chấp, chiếm dụng, thâu tóm đất đai, sử dụng sai mục đích diễn ra tràn lan trong khi Nhà nước không thu được tiền thuê đất. Hơn mười năm sau, phần lớn nội dung đánh giá ấy vẫn giữ nguyên giá trị thời sự.
9. Vì sao chậm: bốn nút thắt đọc được từ số liệu
Đối chiếu các nguồn số liệu, có thể quy về bốn nhóm nguyên nhân.
Nút thắt kỹ thuật – hồ sơ và đo đạc. Phần lớn diện tích bàn giao chưa được kiểm kê, chưa lập bản đồ địa chính đến từng thửa, chưa đo đạc cắm mốc. Không có bản đồ thì không xác định được ranh giới; không xác định được ranh giới thì không thể giải quyết tranh chấp, cũng không thể cấp giấy chứng nhận.
Nút thắt pháp lý – điều kiện thủ tục. Việc cấp giấy chứng nhận đối với đất có nguồn gốc nông, lâm trường trước đây phụ thuộc vào phương án sử dụng đất đã được phê duyệt. Khi công ty đã giải thể hoặc phá sản, không còn chủ thể lập phương án, hồ sơ của người dân bị treo vô thời hạn. Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15/8/2025 đã tháo gỡ điểm này bằng cách cho phép Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo đo đạc, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận cho các đối tượng đủ điều kiện mà không cần phương án sử dụng đất trong trường hợp doanh nghiệp đã giải thể, phá sản.
Nút thắt tài chính. Nhiều công ty thuộc diện giải thể đã mất khả năng thanh toán; ngân sách hỗ trợ giải thể và bổ sung vốn điều lệ là vấn đề được Chính phủ giao Bộ Tài chính xử lý từ năm 2024 nhưng chưa hoàn tất. Ở cấp địa phương, kinh phí đo đạc, lập bản đồ địa chính cho hàng trăm nghìn hecta là khoản chi lớn, thường bị lùi lại.
Nút thắt tổ chức và trách nhiệm. Trong 95 công ty chưa hoàn thành sắp xếp, một phần thuộc quản lý của bộ, ngành trung ương, đóng trên địa bàn địa phương – tạo ra tình trạng địa phương không đủ thẩm quyền, còn cơ quan chủ quản ở xa. Kết luận của lãnh đạo Chính phủ tại các hội nghị năm 2024 đã phải nhấn mạnh nguyên tắc “không làm thay, không đùn đẩy trách nhiệm” – bản thân việc phải nhấn mạnh điều đó đã nói lên vấn đề.
10. Khung chính sách đang chuyển động
Trong khoảng hai năm gần đây, chuỗi văn bản chỉ đạo và pháp lý đã dày lên rõ rệt, cho thấy vấn đề được đặt ở mức ưu tiên cao hơn trước:
- Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 10/9/2024 của Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp.
- Kết luận số 103-KL/TW ngày 02/12/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW, yêu cầu khẩn trương hoàn thành sắp xếp đối với các công ty còn lại.
- Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15/8/2025 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 101/2024/NĐ-CP, gỡ điều kiện phương án sử dụng đất trong trường hợp doanh nghiệp đã giải thể, phá sản.
- Nghị quyết số 29/2026/QH16 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù xử lý vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ các dự án tồn đọng, kéo dài, cùng Nghị định số 147/2026/NĐ-CP hướng dẫn thi hành.
- Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan – thay thế Nghị quyết số 18-NQ/TW năm 2022.
-Nghị quyết số 21-NQ/TW là mốc quan trọng nhất đối với chủ đề của seri này. Văn kiện yêu cầu có cơ chế đặc thù để xử lý dứt điểm, công khai, minh bạch đối với đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh, đặt cùng nhóm với đất trụ sở dôi dư, đất sau cổ phần hóa, thoái vốn và các dự án tồn đọng, kéo dài. Nghị quyết cũng đặt mốc thời gian rất cụ thể cho công tác nền: đến hết năm 2026 hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu số đối với toàn bộ thửa đất đã thu thập thông tin; đến hết năm 2027 cơ bản hoàn thành đo đạc, lập bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đối với phần diện tích còn thiếu.
Hai mốc này liên quan trực tiếp đến nút thắt kỹ thuật đã nêu ở mục 9. Nếu được thực hiện đúng tiến độ, đến cuối năm 2027 lần đầu tiên sẽ có nền dữ liệu địa chính đủ để xác định ranh giới cho phần lớn khối đất đang tranh chấp điều kiện tiên quyết cho mọi phương án xử lý pháp lý.
11. Đọc toàn bộ số liệu, có ba điều nổi lên.
Một là, khối lượng tồn đọng đã ổn định ở mức cao trong nhiều năm. Tỷ lệ chưa hoàn thành sắp xếp gần như không đổi giữa cuối năm 2021 (35,2%) và giữa năm 2026 (khoảng 37%). Điều này gợi ý rằng phần việc còn lại không thể giải quyết bằng cách đôn đốc thêm, mà cần thay đổi công cụ pháp lý.
Hai là, tranh chấp không nằm ở khu vực doanh nghiệp còn hoạt động, mà tập trung ở vùng chuyển tiếp: đất đã rời khỏi doanh nghiệp nhưng chưa xác lập được chủ thể sử dụng mới. Gần một phần tư quỹ đất bàn giao rơi vào tình trạng lấn chiếm, tranh chấp, cấp trùng chính là hệ quả của khoảng trống quản lý này.
Ba là, người chịu thiệt cuối cùng thường là hộ dân đang trực tiếp canh tác. Họ sử dụng đất ổn định hàng chục năm, có công khai hoang, có đóng góp sản phẩm khoán, nhưng không có giấy chứng nhận nghĩa là không thể thế chấp vay vốn, không được bồi thường đầy đủ khi thu hồi, và luôn ở thế yếu khi phát sinh tranh chấp.
Nguồn số liệu
- Số công ty thuộc diện sắp xếp và tiến độ: Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Hội nghị Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp ngày 25/4/2024; Thông báo số 215/TB-VPCP ngày 12/5/2024 của Văn phòng Chính phủ; số liệu đến 31/12/2021 nêu trong dự thảo nghị định sửa đổi Nghị định số 118/2014/NĐ-CP (công bố tháng 4/2022).
- Số liệu lĩnh vực lâm nghiệp đến tháng 9/2024: phát biểu của Vụ trưởng Vụ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương (tháng 10/2024).
- Số liệu diện tích đất, bàn giao và hiện trạng sử dụng: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2024; Ban Kinh tế Trung ương, Báo cáo số 241-BC/BKTTW ngày 16/11/2024; tổng hợp trong báo cáo nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Bá Ngãi (Đại học Phenikaa) và TS. Vũ Xuân Thôn (Hội Chủ rừng Việt Nam).
Số liệu Đắk Lắk: phát biểu của đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Thu Nguyệt ngày 20/4/2026 và báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk (tháng 5/2026).
Số liệu các tập đoàn, tổng công ty: kết luận thanh tra công bố năm 2021 (số liệu chốt đến 31/12/2017); thông tin vụ Tổng công ty Giấy Việt Nam theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ (tháng 8/2026).
- Số liệu giám sát về lãng phí đất đai giai đoạn 2016–2021: Nghị quyết số 74/2022/QH15 và báo cáo của Đoàn giám sát Quốc hội.